1.7. Một số định lí về giá trị trung bình

Theorem 1.11 (Bổ đề Fermat)

Cho \(f\) là một hàm số có đạo hàm trên \((a; b)\). Nếu \(x_0 \in (a; b)\) là một điểm cực trị của \(f\) thì ta có \(f'(x_0) = 0\).

Theorem 1.12 (Định lí Rolle)

Xét hàm số \(f\) liên tục trên đoạn \([a; b]\), có đạo hàm trên khoảng \((a; b)\)\(f(a) = f(b)\). Khi đó tồn tại \(c\) thuộc \((a; b)\) sao cho \(f'(c) = 0\).

Về mặt vật lí, định lí Rolle cho biết rằng nếu một chất điểm chuyển động trên đường thẳng bắt đầu từ điểm \(a\) và quay lại điểm xuất phát ở thời điểm \(b\) thì có một thời điểm \(c\) nào đó thuộc \((a; b)\) mà chất điểm dừng lại, kể cả ta không biết tốc độ của chất điểm như nào.

Định lí Rolle là công cụ giúp khảo sát, đánh giá số nghiệm của các phương trình rất tốt.

Khi mở rộng định lí Rolle chúng ta được định lí Lagrange. Nếu trong khoảng thời gian từ \(a\) tới \(b\), chất điểm di chuyển trên đường thẳng từ vị trí \(s(a)\) tới \(s(b)\) (so với gốc tọa độ) thì vận tốc trung bình trong thời gian này là \(\dfrac{s(b) - s(a)}{b - a}\). Định lí Lagrange nói rằng tồn tại thời điểm \(c\) thuộc \((a; b)\) sao cho vận tốc tức thời tại thời điểm này bằng vận tốc trung bình trên cả quãng đường \(s(a)\) tới \(s(b)\).

Theorem 1.13 (Định lí Lagrange)

Xét hàm số \(f\) liên tục trên đoạn \([a; b]\), có đạo hàm trên khoảng \((a; b)\). Khi đó tồn tại \(c\) thuộc \((a; b)\) sao cho \(f'(c) (b - a) = f(b) - f(a)\).

Với cách tiếp cận và trình bày như trên thì định lí Lagrange được gọi là định lí giá trị trung bình.

Thay đổi cách kí hiệu, đặt \(a = x\)\(b = x + \Delta x\) thì ta có

\[f(x + \Delta x) - f(x) = f'(c) \cdot \Delta x\]

với \(c \in (x, x + \Delta x)\). Lúc này định lí Lagrange được gọi là định lí về số gia hữu hạn.

Về mặt hình học có thể thấy \(\dfrac{f(b) - f(a)}{b - a}\) là hệ số góc của dây cung nối hai điểm \((a, f(a))\)\((b, f(b))\) của đồ thị hàm số \(y = f(x)\), còn \(f'(c)\) là hệ số góc của tiếp tuyến tại điểm có hoành độ \(x = c\) thuộc đường cong. Khi đó định lí Lagrange có ý nghĩa

Nếu hàm số \(f\) liên tục trên \([a; b]\) và có đạo hàm trên \((a; b)\) thì tồn tại điểm \(c \in (a; b)\) sao cho tiếp tuyến tại điểm \((c, f(c))\) song song với dây cung \(AB\) nối hai điểm \((a, f(a))\)\((b, f(b))\).

../../_images/lagrange_theorem.svg

Hình 1.33 Minh hoạ hình học của định lí Lagrange

Ở biểu thức của định lí Lagrange, đặt \(g(x) = x\) thì \(g(b) = b\), \(g(a) = a\)\(g'(x) = 1\) với mọi \(x \in (a; b)\). Khi đó ta có

\[f'(c) = \dfrac{f(b) - f(a)}{b - a} \Longleftrightarrow \dfrac{f'(c)}{1} = \dfrac{f'(c)}{g'(c)} = \dfrac{f(b) - f(a)}{g(b) - g(a)}.\]

Nếu ta thay \(g(x)\) là một hàm số khả vi tùy ý thì biểu thức này còn đúng không?

Theorem 1.14 (Định lí Cauchy)

Nếu \(f(x)\)\(g(x)\) là hai hàm số liên tục trên \([a; b]\), có đạo hàm trên \((a; b)\)\(g'(x) \neq 0\) với mọi \(x \in (a; b)\) thì tồn tại \(c \in (a; b)\) sao cho

\[\dfrac{f(b) - f(a)}{g(b) - g(a)} = \dfrac{f'(c)}{g'(c)}.\]

Theorem 1.15 (Quy tắc L’Hôpital)

Xét \(V\) là lân cận của điểm \(x_0\), \(f(x)\)\(g(x)\) là hai hàm số liên tục trên \(V\) và có đạo hàm trên \(V \setminus \{ x_0 \}\). Giả sử

\[f(x_0) = g(x_0) = 0, \ \lim_{x \to x_0} \dfrac{f'(x)}{g'(x)} = a.\]

Khi đó ta có

\[\lim_{x \to x_0} \dfrac{f(x)}{g(x)} = a.\]

Quy tắc L’Hôpital là công cụ khử dạng vô định \(\dfrac{0}{0}\) rất hiệu quả. Tuy nhiên chúng ta cũng cần chú ý rằng nếu không phải dạng vô định thì quy tắc L’Hôpital không còn đúng.